Vai trò của đánh giá tác động môi trường

Với sự quy hoạch phát triển không ngừng của các ngành trong xã hội như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, thuỷ sản, du lịch - dịch vụ, đô thị hoá... nhằm đáp ứng nhu cầu con người theo sự gia tăng dân số mà không chú ý đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, suy giảm tài nguyên sinh vật, thay đổi khí hậu toàn cầu,... ngày càng nghiêm trọng. Để quản lý môi trường được thắt chặc hơn, đánh giá tác động môi trường (ĐMT) đã được đưa vào trong khuôn khổ Luật Chính sách Môi trường Quốc gia đầu tiên ở Mỹ và sau đó lan toả ra nhiều nước khác trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Như vậy, ĐTM là một công cụ để quản lý môi trường.

 

Ở Việt Nam, ĐMT cũng được đưa vào trong luật bảo vệ môi trường (LBVMT) và xem đây là một trong những nội dung cần thiết phải có trong xem xét phê duyệt cho phép dự án thực thi. Nó không những là công cụ quản lý môi trường mà còn là một nội dụng giúp quy hoạch dự án thân thiện với môi trường và là một phần của chu trình dự án.

 

Theo Đăng Mộng Lân (2001), ĐTM là công cụ được sử dụng rộng rãi nhất trong quản lý môi trường, nó thuộc nhóm các công cụ phân tích của quản lý môi trường và là một loại hình của báo cáo thông tin môi trường. Theo LBVMT Việt Nam, ĐTM là quá trình phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt dự án nhằm bảo đảm phát triển bền vững. Như vậy ĐTM là quá trình nghiên cứu để đóng góp cho sự phát triển bền vững.

 

ĐTM còn giúp phát hiện ra các tác động có hại đối với môi trường trước khi chúng xảy ra, nhờ đó các đề xuất dự án phát triển có thể được thay đổi sao cho:

i. Các tác động môi trường được giảm thiểu tới mức thấp nhất hoặc được loại trừ.

 

ii. Nếu các tác động tiêu cực này ở mức không thể chấp nhận được hoặc không giảm nhẹ được thì dự án sẽ phải bãi bỏ. Nói cách khác, ĐTM là một công cụ quản lý môi trường có tính chất phòng ngừa. ĐTM không những chỉ đặt ra đối với các dự án phát triển mà nó còn áp dụng cho việc vạch ra các chương trình, kế hoạch và chính sách. Nói chung ĐTM được sử dụng để quy hoạch và cho phép thực hiện bất kỳ hành động nào có thể có tác động đáng kể đến môi trường. ĐTM còn được hiểu một cách rộng rãi là một quá trình giao lưu quan trọng. Thông tin sản sinh từ các nghiên cứu về tác động phải được chuyển đến những người ra quyết định chủ chốt, những người phản biện và công chúng. Ở đây có 2 yêu cầu mà người tiến hành ĐTM cần phải giải quyết:

 

1. Chuyển thông tin có tính chất chuyên môn cao sang một ngôn ngữ hiểu được đối với người đọc không chuyên môn.

 

2. Tóm tắt một khối lượng lớn thông tin và rút ra những vấn đề then chốt có liên quan đến những tác động quan trọng nhất. Quá trình này được thực hiện bằng cách biên soạn một tài liệu gọi là báo cáo ĐTM. Đây là báo cáo mà người đề xuất dự án phải chuẩn bị, nội dung là mô tả các tác động tiềm tàng đến môi trường mà dự án đề xuất có thể gây ra, đồng thời đưa ra các biện pháp sẽ được tiến hành để giảm nhẹ các tác động đó. Có thể nhìn nhận ĐTM theo hai khía cạnh hay quan điểm:

a. ĐTM được xem là một hoạt động khoa học được thực hiện bởi các chuyên gia nhằm nâng cao chất lượng của việc đưa ra một quyết định của các nhà chính trị và b. ĐTM là một hoạt động chính trị nhằm thay đổi quá trình ra quyết định có tính chất chuẩn, qua sự tham gia tích cực của nhân dân và những nhóm người có lợi ích khác nhau.

 

Quan điểm (a) tập trung vào các khía cạnh kỹ thuật của thủ tục được phát triển trong khuôn khổ các quá trình ra quyết định chuẩn. Quan điểm (b) đặc biệt chú ý tạo cho sự tham gia của nhân dân trong các quá trình đánh giá và ra quyết định. Rõ ràng cả 2 quan điểm đều là cần thiết. Nếu cách thứ nhất thì vẫn phải tính đến vai trò của quần chúng. Còn theo cách thứ 2 cũng cần phải làm thế nào để có căn cứ khoa học. Tỷ lệ giữa khoa học và quần chúng tùy thuộc vào thể chế của mỗi nước và nó thay đổi theo thời giant. ĐMT đã được đưa ra đầu tiên ở Mỹ trong khuôn khổ Luật Chính sách Môi trường Quốc gia (NEPA) năm 1969, sau đó lan truyền sang các nước khác. Trong những năm 1990, do nhu cầu ngày càng cấp bách về quản lý môi trường, ĐTM đã trở nên ngày càng quan trọng hơn. Ở Việt Nam, ĐTM chỉ mới được áp dụng từ khi LBVMT quốc gia được thiết lập và thông qua vào cuối năm 1993. Giai đoạn đầu Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường Việt Nam chỉ quy định 23 loại dự án cần phải lập báo cáo ĐTM để trình duyệt nhưng hiện nay( năm 2005) con số dự án cần lập báo cáo ĐTM đã tăng lên đến 102. Ngoài ra, công tác lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM cũng được hướng dẫn ngày càng cụ thể và chi tiết hơn. Những báo cáo ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường của chủ dự án là cơ sở pháp lý giúp các cơ quan nhà nước quản lý về mặt môi trường quản lý dễ dàng hơn. Ngoài ra, ĐTM cũng là những bài học để dự báo tác động môi trường cho việc quy hoạch các dự án tương tự sau này.

 

Sưu tầm