Trước thế kỷ 20, ít khi người ta để ý đến ảnh hưởng của con người vào môi trường. Không phải là không có. Những hoạt động đốt rừng làm rẫy của người thượng du có thể gây lụt lội tại đồng bằng Việt Nam. Đã có nhiều giống vật bị tuyệt chủng hay gần tuyệt chủng vì con người, như bò rừng Bắc Mỹ và chim dodo (đã đi vào tiếng Anh như đồng nghĩa của sự tuyệt chủng). Đã có những nền văn minh cổ bị sụp đổ vì tác hại vào môi trường đến độ không còn khả năng nuôi sống con người. Một ví dụ nổi tiếng là nền văn minh đảo Easter, với những pho tượng đầu người (Moai) huyền bí, bị sụp đổ vì con người tàn phá thiên nhiên, đốn hết cây rừng làm cả hòn đảo trở thành sa mạc. Một trong những mục đích của việc đốn gỗ là để... chuyên chở và dựng tượng! Tuy nhiên, nói chung những tác hại của con người thời xưa thường không đáng kể so với những tai họa của thiên nhiên, vì dân số nhân loại còn quá ít, kỹ thuật còn thô sơ.
Moai đảo Easter
Thời nay, với dân số lớn và kỹ thuật cao, ảnh hưởng của con người lên môi trường dễ trở thành trầm trọng và có ảnh hưởng lâu dài và rộng rãi, nhiều khi toàn lục địa hay toàn cầu. Khoảng thập niên 1930, đột nhiên xuất hiện những trận bão cát khổng lồ ("Dust Bowl") tàn phá các đồng cỏ cả miền trung nước Mỹ khiến hàng triệu trại chủ và nông dân mất hết tài sản, công ăn việc làm, phải di cư đi nơi khác. Lý do là con người canh tác quá nhiều làm mất đất mầu khiến cánh đồng chỉ còn là cát và bụi. Năm 1989 tàu chở dầu Exxon Valdez đổ dầu tại vùng biển Alaska. Năm 1984 nhà máy hóa học Bhopal thải hơi độc chết 3000 người. Năm 1986 nổ lò nguyên tử Chernobyl làm cả Âu châu nhiễm phóng xạ. Hiện nay vụ sa mạc hóa và ô nhiễm vùng biển Aral đang ảnh hưởng hàng triệu người. Có những tác động cả thế giới như chất làm lạnh CFC gây lỗ ozone trên Nam cực, khí CO2 hâm nóng toàn cầu (global warming).

Bão cát Dust Bowl tại Mỹ (1935)
Khi một nước đang phát triển và có nhiều dự án lớn thì ảnh hưởng lên môi trường càng mạnh. Ở những nước nghèo, vì quá chú tâm vào mục tiêu phát triển kinh tế, môi trường rất dễ bị quên lãng, gây nhiều ảnh hưởng tai hại. Đó là trường hợp các nước Âu châu trong TK19 và đầu TK20, Nhật trong suốt nửa đầu TK20, và Việt Nam, Trung Quốc cùng các nước tương tự trong lúc này.
Sự khác biệt lớn nhất giữa các nước đang phát triển hiện nay và các nước Âu châu và Mỹ thời xưa là tốc độ phát triển ngày nay nhanh hơn, các dự án lớn hơn, thường có các công ty hay tổ chức lớn của ngoại quốc tài trợ, và dân số đông hơn gấp bội. Dân số nước Anh trong thời cách mạng kỹ nghệ chỉ chừng 20 triệu trong khi Việt Nam đã hơn 80 triệu. Môi trường vốn dĩ đã yếu vì mật độ dân số cao, mà dự án thì lớn, nên tác động môi trường ngày nay trầm trọng hơn thời xưa rất nhiều.
Rút kinh nghiệm của quá khứ, để giảm bớt sự tàn phá, các nước đều có những luật lệ bảo vệ môi trường. Trước khi thực hiện một dự án lớn, một trong những giai đoạn quan trọng là việc viết một Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường, tiếng Anh là Environmental Impact Assessment Report (EIA) hay còn gọi là Environmental Impact Statement (EIS). Nhà xây dựng phải viết EIA và đệ trình chính quyền. EIA phải công bố cho công chúng trong vùng bị ảnh hưởng để dân chúng có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình. Sau khi cân nhắc lợi hại, chính quyền mới chấp thuận hoặc chối từ dự án, hoặc bắt buộc nhà xây dựng phải làm cho hoàn chỉnh hơn.
Từ năm 1993 Việt Nam đã có Luật Bảo vệ Môi Trường. Luật này được sửa đổi lại và ban hành vào tháng 7 năm 2006 (http://na.vasc.com.vn/noidung.asp?id=18979), trong đó dành nguyên một mục về Đánh giá Tác động Môi trường. Đạo luật này đòi hỏi các dự án lớn, nhất là các dự án có đầu tư từ nước ngoài, phải làm EIA. Mẫu EIA cho một số các loại công trình có thể tìm thấy trên trang của Cục Bảo vệ Môi trường (Vietnamese Environment Protection Agency hay VEPA) http://www.nea.gov.vn/html/khungphaply/all.htm: dự án phát triển khu công nghiệp, dự án công trình giao thông, dự án nhà máy bia- rượu- nước giải khát, dự án nhà máy nhiệt điện, dự án nhà máy dệt - nhuộm, v.v. Dĩ nhiên, những mẫu này chỉ là vài ví dụ cụ thể.
Vì EIA đóng một vai trò quan trọng như vậy, nhà xây dựng phải cân nhắc kỹ càng xem những phương cách của mình trong dự án đã tối ưu chưa trong việc giảm tác dụng vào môi trường, có cách nào làm khác không, nếu có những tác dụng không thể tránh thì làm sao để giảm ảnh hưởng của nó tới mức tối thiểu, phải đền bù sao cho xứng đáng những người bị ảnh hưởng, v.v...
Trích từ bài viết của Phạm Quang Tuấn (Vietsciences)