Suy ngẫm về vai trò của đánh giá tác động môi trường các dự án đầu tư phát triển

(TN&MT) - Từ kinh nghiệm thực tiễn vận hành ĐTM những năm qua, để công tác quản lý về kiểm soát ô nhiễm có hiệu quả, giấy phép về ĐTM có hiệu lực mạnh mẽ hơn cần thiết phải điều chỉnh những quy định về ĐTM một cách toàn diện, cả về quan điểm, cách tiếp cận, nhận thức, lấy mục tiêu hiệu quả về kiểm soát ô nhiễm làm trọng tâm.

 

Trước mắt, khi còn chưa bổ sung, chỉnh sửa được Luật BVMT 2005 nên điều chỉnh lại danh mục các dự án phải lập báo cáo ĐTM tại Phụ lục 1, Nghị định 21/2008/NĐ-CP theo hướng nâng cao công suất, bỏ một số loại dự án mà bản thân nó khi thiết kế, thi công cũng đã được kiểm soát như các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu dân cư, công trình giao thông...

 

Điều chỉnh về nội dung và hình thức pháp lý của văn bản Quyết định phê chuẩn báo cáo ĐTM: Về tên gọi: Thay  bằng: Quyết định phê duyệt phương án (Kế hoạch BVMT) hay Chứng chỉ môi trường của dự án A, B.... Coi ĐTM là công cụ để thẩm định phương án BVMT của dự án và để cấp chứng chỉ môi trường. Cơ quan cấp là thuộc ngành TN&MT các cấp.

 

Về nội dung của chứng chỉ: Giống như chứng chỉ quy hoạch: bao gồm các thông số cơ bản về dự án (về địa điểm, diện tích tổng thể, công nghệ SX, công suất, vật chất đầu vào, nhu cầu nhiên liệu, năng lượng, nước..); các thông số cơ bản về các giải pháp xử lý giảm thiểu ô nhiễm do nước thải, khí thải, chất thải rắn, tiếng ồn (kèm theo sơ đồ quy hoạch, vị trí các công trình, thiết kế cơ sở, công suất xử lý, tổng đầu tư...), các giải pháp cải thiện môi trường (cây xanh, mặt nước thoáng, hành lang cách ly an toàn, phục hồi môi trường..), chương trình quan trắc môi trường, chế độ báo cáo... và những thông tin bắt buộc chủ dự án phải thực hiện về bảo vệ môi trường. Thời hiệu của giấy phép. Khi gia hạn phải thẩm định lại.

 

Báo cáo ĐTM chỉ là những hồ sơ phục vụ quá trình thẩm định để cấp chứng chỉ môi trường, để tham khảo khi cần thiết sau này. Những quy định, hướng dẫn về nội dung báo cáo ĐTM cũng cần thay đổi tương ứng để đáp ứng sự thay đổi về nội dung quản lý môi trường thông qua ĐTM.

 

Nội dung báo cáo ĐTM: Bám sát định nghĩa về ĐTM của Luật và trên cơ sở những nội dung của chứng chỉ môi trường sẽ phê duyệt để thiết kế những nội dung chủ yếu của báo cáo ĐTM.

 

Thời điểm trình duyệt ĐTM để xin cấp chứng chỉ môi trường trước thời điểm (và cũng là căn cứ để) cấp chứng chỉ quy hoạch cho dự án.

 

Các giải pháp BVMT, xử lý giảm thiểu ô nhiễm luôn gắn liền và có song song với thiết kế quy trình công nghệ, gắn liền và phải có trước quy hoạch tổng mặt bằng của dự án. Đây là những yếu tố liên quan chặt chẽ đến quá trình xử lý môi trường mà cả cơ quan quản lý và chủ đầu tư cần quan tâm trong quá trình soạn thảo các quy định về ĐTM.

 

Về lâu dài: ĐTM phải được sử dụng đúng với vai trò của nó để điều chỉnh các dự án, kịch bản phát triển. Nghĩa là với chỉ những dự án có quy mô lớn, ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường và tài nguyên (dự án quy hoạch, dự án phát triển khu kinh tế, khu CN, nhà máy thủy điện, điện hạt nhân..). Còn với các dự án phát triển cụ thể khác, nên chăng áp dụng phương pháp ký quỹ cam kết xử lý ô nhiễm môi trường đối với các dự án đầu tư. Theo đó các chủ đầu tư khi trình duyệt dự án, hoặc xin cấp đất xây dựng phải có giấy chứng nhận đã ký quỹ cam kết xử lý ô nhiễm môi trường tại Quỹ bảo vệ môi trường của địa phương.

Đối với các dự án phát triển công nghiệp: Cơ quan quản lý môi trường cấp giấy chứng nhận ký quỹ cam kết xử lý ô nhiễm môi trường sau khi chủ đầu tư đã ký một lượng tiền vào quỹ BVMT địa phương. Giá trị buộc ký quỹ là tỷ lệ % của tổng giá trị xây lắp hệ thống xử lý giảm thiểu ô nhiễm (về nước thải, khí thải, xử lý chất thải nguy hại, chất thải rắn... cho dự án). Tỷ lệ này vừa đủ lớn để gây áp lực buộc chủ đầu tư phải thực hiện việc xử lý giảm thiểu do mình gây ra. Chủ đầu tư sẽ được hoàn trả sau khi được cơ quan quản lý chứng nhận là hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép về môi trường. Cần có văn bản hướng dẫn cách tính toán về ký quỹ, về quy trình, thủ tục thẩm định thiết kế (có thể nhiều cơ quan tham gia thẩm định về kỹ thuật), quy trình nghiệm thu, vận hành, quan trắc dòng thải... và các chế tài xử lý vi phạm. Nên có quy định riêng về tỷ lệ cho từng loại hình công nghiệp. Các hệ số có thể áp dụng đối với trình độ công nghệ sản xuất, áp dụng công nghệ sạch, thân môi trường, tái sử dụng chất thải, đầu tư vào khu CN tập trung.

 

Nên tiến hành thí điểm đối với một số loại hình công nghiệp tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng nhưng có lợi nhuận cao như: sản xuất giấy, dệt nhuộm, chế biến thực phẩm, nước giải khát... để xem xét hiệu quả kiểm soát ô nhiễm môi trường trước khi áp dụng chính thức./.

 

Đối với các dự án khai thác khoáng sản: Giá trị buộc chủ khai thác phải ký quỹ là tỷ lệ % của tổng giá trị xây lắp hệ thống xử lý giảm thiểu ô nhiễm (về nước thải, khí thải, xử lý chất thải rắn cho dự án) và giá trị ký quỹ phục hồi môi trường theo Quyết định số 71/2008/NĐ-CP ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ phục hồi, cải tạo môi trường đối với khai thác khoáng sản.

 

Đối với các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng: Giá trị buộc phải ký quỹ là tỷ lệ % chi phí dành cho các hạng mục đầu tư cải tạo cảnh quan, phủ xanh đất trống, chi phí cho bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng.

 

Như vậy, khi thực hiện việc ký quỹ, chủ đầu tư buộc phải tự thực hiện đánh giá tác động môi trường của dự án để thiết kế hệ thống xử lý giảm thiểu cho phù hợp. Việc bị buộc phải giam tiền trong Quỹ BVMT cũng buộc chủ đầu tư phải thực hiện việc xây lắp, vận hành hệ thống và xử lý phải đạt tiêu chuẩn cho phép về môi trường./.

Ths. Lê Sơn

Sở TN&MT  TP. Hải Phòng