Khái niệm về đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường thường được viết tắt là ĐTM, tiếng anh của ĐTM là Environmental Impact Assessment và thường được viết tắt là EIA là công cụ quản lý môi trường, đã được hình thành trên thế giới hơn 30 năm qua, theo định nghĩa của luật môi trường, được pháp luật nước ta thông ngày 29 tháng 11 năm 2005. Theo luật bảo vệ môi trường Việt Nam (2005), ĐTM được chia làm 2 dạng:

 

i. Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)

Tiếng Anh là Strategic Environmental Assessment (SEA) là “việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững”.

 

ii. Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

Là “Việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”. Theo chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, ĐTM "là một quá trình nghiên cứu được sử dụng để dự báo những hậu quả môi trường có thể gây ra từ một dự án phát triển quan trọng được dự kiến thực thi". Những định nghĩa khác nhau nên qui trình thực hiện ở các nước cũng khác nhau. Tuy nhiên, ĐTM ở các quốc gia đều là quá trình nghiên cứu nhằm

 

  • Dự đoán những tác động về môi trường có thể gây ra từ dự án.
  • Tìm cách hạn chế những tác động không thể chấp nhận và định hướng để dự án có thể chấp nhận được về mặt môi trường địa phương.
  • Chỉ ra những dự đoán cụ thể và chọn lựa những quyết định. Sự khác biệt giữa đánh giá tác động môi trường chiến lược( ĐMC) và đánh giá tác động môi trường( ĐTM):

 

Đánh giá tác động môi trường chiến lược (ĐMC) và đánh giá tác động môi trường (ĐTM) về cơ bản đều dựa trên nguyên tắc rất cơ bản đó là phát hiện, dự báo và đánh giá những tác động tiềm tàng của hoạt động phát triển có thể gây ra đối với môi trường tự nhiên, kĩ thuật – xã hội, để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và xử lý các tác động tiêu cực tới mức thấp nhất có thể chấp nhận được. Quy trình thực hiện của ĐTM và ĐMC đều được thực hiện qua các bước sàng lọc, xác định phạm vi, đánh giá tác động, xác định các biện pháp giảm thiểu, thẩm định, ra quyết định và cuối cùng là quan trắc, giám sát môi trường. Chính vì vậy mà cả ĐTM và ĐMC đều có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường và được xem là những công cụ quản lý hửu hiệu không thể thay thế được trong phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên vì mục tiêu phát triển bền vững.

 

Mặc dù những điểm tương đồng nêu trên, song giữa ĐTM và ĐMC cũng có nhiều sự khác biệt cơ bản, trước hết là về đối tượng nghiên cứu, mục tiêu, mục đích cần đạt được và sau đó là sự khác biệt cả về những nội dung quy trình thực hiện. Tuy vậy, điều cần nhấn mạnh ở đây là những sự khác biệt này không phải là sự phủ nhận lẫn nhau mà chính lại là những mặt bổ sung, hỗ trợ cho nhau và ĐMC đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình không thể thay thế cho ĐTM ở cấp dự án và ngược lại. Sự khác biệt giữa ĐTM và ĐMC đã được đề cập một cách khái quát trong nhiều tài liệu nghiên cứu ở ngoài nước dưới nhiều góc độ khác nhau và nội dung này cũng được đề cập tới trong kết quả nghiên cứu của đề tài B2000.34.79.MT “ Cơ sở khoa học của đánh giá môi trường chiến lược” do Trung Tâm Kĩ Thuật Môi Trường Đô thị và Khu công nghiệp thực hiện vào năm 2000.

 

Sự khác biệt đầu tiên giữa ĐMC và ĐTM phải kể đến là loại hình quyết định mà cả hai phương pháp này liên quan. ĐTM liên quan đến việc ra các quyết định trước khi bắt đầu thi công dự án. Các quyết định này thường là các quyết định chi tiết chủ yếu về vị trí và nội dung thiết kế một dự án và về các biện pháp giảm thiểu hơn là ngăn ngừa các tác động môi trường. Các giải pháp thay thế khả thi ở giai đoạn dự án thường giới hạn với các biến số nhỏ (như đối với dự án giao thông là vạch chính xác tuyến đường, lựa chọn tuyến tránh các điểm nhạy cảm môi trường,... trên cơ sở hướng tuyến đường và quy mô nó đã được xác định). Trong khi đó ĐMC lại liên quan đến các quyết định mang tính chiến lược. Mục đích của ĐMC là cân nhắc kĩ hơn các vấn đề môi trường (các cản trở và thuận lợi) và làm cho quy trình ra quyết định minh bạc hơn nhờ các biện pháp tư vấn và tham gia rộng rãi của cộng đồng. Như vậy, thí dụ như quy hoạch mạng lưới giao thông, ở cấp độ này là đánh giá lựa chọn các tuyến khác nhau và các phương thức giao thông khác nhau, cũng như quản lý nhu cầu hoặc là đưa ra các quyết định chiến lược có tính khả thi.

 

Sưu tầm